Thứ bảy, ngày 5 tháng 12 năm 2020 | 12:01:20
RSS

BỆNH SỐT VÀNG 17/06/2016

_

BỆNH SỐT VÀNG
(Febris flavus)
ICD-10 A95: Yellow fever
Bệnh sốt vàng thuộc nhóm A trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
1. Đặc điểm của bệnh:
1.1. Định nghĩa ca bệnh:
- Ca bệnh lâm sàng: Bệnh nhân có sốt cao, khởi phát đột ngột, kèm rét run, đau đầu, đau cơ toàn thân, mặt đỏ xung huyết, buồn nôn và nôn, mạch chậm và yếu không tương xứng với tăng thân nhiệt, có vàng da nhẹ, bạch cầu máu ngoại vi giảm.
Giai đoạn toàn phát có dấu hiệu xuất huyết niêm mạc (chảy máu cam, máu mũi, nôn ra máu hoặc đi ngoài phân đen). Trường hợp nặng, bệnh nhân tổn thương nhiều phủ tạng, suy gan, suy thận, trụy tim mạch, vàng da vừa hoặc nặng, sốc nhiễm khuẩn. Tỷ lệ tử vong ở thể nặng 20% tới 50%, các thể khác dưới 5%.
- Ca bệnh xác định: Khi một bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nghi sốt vàng, có thêm kết quả dương tính của ít nhất một trong các xét nghiệm sau:
+ MAC - ELISA phát hiện kháng thể IgM kháng vi rút sốt vàng ở giai đoạn sớm của bệnh; Kỹ thuật ngăn ngưng kết hồng cầu (HI) hoặc GAC - ELISA trên máu kép lấy cách nhau 14 ngày phát hiện IgG có hiệu giá kháng thể tăng ít nhất gấp 4 lần.
+ Phân lập vi rút,  hay kỹ thuật PCR từ máu, dịch não tủy bệnh nhân lấy trong giai đoạn nhiễm vi rút huyết.
1.2. Chẩn đoán phân biệt với những bệnh sau:
- Bệnh sốt xuất huyết dengue, thể nặng có suy gan thận và vàng da.
- Bệnh sốt Ebola và Marburg: có xuất huyết nặng, gan lách to, rối loạn tâm thần, tổn thương nhiều phủ tạng. Bệnh có thể du nhập từ ngoài vào Việt Nam.
- Bệnh sốt Tây sông Nin: thể viêm não, màng não có suy gan, vàng da. Bệnh do muỗi truyền, có thể du nhập từ ngoài vào Việt Nam.
Trong các trường hợp chẩn đoán phân biệt, cần dựa vào kết quả xét nghiệm PCR phát hiện dấu ấn di truyền của vi rút, hoặc phản ứng huyết thanh phát hiện các marker gián tiếp.
1.3. Xét nghiệm:
- Loại mẫu bệnh phẩm: Máu lấy trong giai đoạn sớm của bệnh để phát hiện kháng thể IgM bằng phản ứng ELISA. Máu trong giai đoạn nhiễm vi rút huyết để xét nghiệm nuôi cấy hoặc phản ứng PCR. Có thể lấy dịch não tủy hoặc phủ tạng (sinh thiết hoặc tử thiết) để phân lập phát hiện vi rút hoặc cho phản ứng huyết thanh miễn dịch.
- Phương pháp xét nghiệm: kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể IgM trong giai đoạn cấp tính, hoặc kháng thể IgG trong những giai đoạn muộn; các phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu (HI), kết hợp bổ thể (CI) hoặc trung hòa (NT) phát hiện kháng thể IgG; phản ứng RT- PCR phát hiện dấu ấn di truyền của vi rút sốt vàng.
2. Tác nhân gây bệnh:
- Tên tác nhân: vi rút sốt vàng (Yellow fever virus), họ Flaviviridae, giống Flavivirus, nhóm vi rút Arbo.
- Hình thái: vi rút mang cấu trúc di truyền ARN sợi đơn, dương 10,9 kb; hạt vi rút có hình cầu dài, kích thước nhỏ (đường kính 40 - 60 nm), có vỏ cấu trúc lipoprotein 2 lớp màng và nucleocapsid cấu trúc glycoprotein.
- Khả năng tồn tại ở môi trường: Vi rút có khả năng tồn tại và nhân lên trong tế bào của nhiều loài muỗi. Khi ra khỏi cơ thể nhìn chung sức đề kháng kém: dễ dàng bị diệt bởi hầu hết các loại hóa chất khử khuẩn thông thường và chất tẩy, xà phòng; tác động trực tiếp của nhiệt (trên 560C trong vòng 30 phút), ánh sáng mặt trời và tia tử ngoại.
3. Đặc điểm dịch tễ học:
- Bệnh lưu hành địa phương, trước hết ở một số vùng thuộc các quốc gia Nam Mỹ và Trung Mỹ như Bolivia, Brasil, Colombia, Ecuador, Peru, Trinidat..., trong đó trên 70% số ca bệnh tập trung ở Bolivia và Peru. Tại Châu Phi, bệnh lưu hành trong khu vực giữa 15 vĩ độ Bắc tới 10 vĩ độ Nam, tập trung ở những quốc gia nam sa mạc Sahara, Angola, Zaire, Tanzania, Nigeria... là những khu vực sinh sống của loài muỗi Aedes aegypti và một số chủng loài muỗi Aedes ưa hút máu khác đã thích ứng cao với vi rút sốt vàng. Bệnh chưa từng gặp ở Châu Á và các châu lục khác, trừ một số ca nghi ngờ do du nhập từ vùng lưu hành. Đã có những cảnh báo về sự du nhập và thích ứng với chủng muỗi Aedes địa phương của vi rút sốt vàng ở một số vùng Châu Á, tuy nhiên chưa được kiểm chứng chính xác.
- Bệnh thường phát sinh vào mùa mưa, khí hậu nóng (nhiệt độ trung bình tháng trên 200C), là giai đoạn phát triển mạnh của loài muỗi Aedes. Ở khu vực bệnh lưu hành, mọi chủng người đều có thể nhiễm vi rút sốt vàng, song nhóm người có nguy cơ cao hơn với bệnh là trẻ em và những người có nghề nghiệp phải thường xuyên phơi nhiễm cho muỗi tấn công đốt hút máu.
4. Nguồn truyền nhiễm:
- Ổ chứa vi rút: Tại vùng nông thôn và thành thị, ổ chứa vi rút là người, gồm người bệnh và người lành mang vi rút. Loài muỗi Aedes aegypti có khả năng mang vi rút lâu dài, có khi suốt đời. Muỗi nhiễm vi rút có khả năng truyền cho thế hệ sau qua trứng, vì vậy tại vùng bệnh lưu hành muỗi Aedes chính là ổ chứa lâu dài của vi rút sốt vàng trong tự nhiên. Trong khu vực rừng núi, ổ chứa chính là khỉ và có thể ở một vài loài thú có túi hoang dại. Các loài muỗi Aedes và muỗi rừng ưa máu khác có vai trò là ổ chứa lâu dài của vi rút sốt vàng trong thiên nhiên.
- Thời gian ủ bệnh: Từ 3 đến 6 ngày, có thể kéo dài hơn.
- Thời kỳ lây truyền: Bệnh nhân sốt vàng có thể làm lây truyền bệnh từ trước khi sốt một vài ngày và sau sốt 3-7 ngày. Muỗi Aedes aegypti sau khi hút máu có nhiễm vi rút sốt vàng sẽ trở thành nguy hiểm trung bình 9-12 ngày, sau đó có khả năng truyền bệnh suốt đời. 
5. Phương thức lây truyền: Bệnh lây theo đường máu do côn trùng đốt và hút máu người và động vật nhiễm bệnh, sau đó đốt, hút máu và truyền vi rút cho người lành. Loài muỗi Aedes được coi là véc tơ chính của vi rút sốt vàng, đồng thời cũng là ổ chứa mầm bệnh.
- Tại khu vực có lưu hành bệnh sốt vàng ở vùng rừng núi Châu Mỹ và Châu Phi, vi rút được truyền từ loài khỉ sang người và giữa người với người bởi một số loài muỗi như Ae. africanus, Ae. bromelia, Ae. simpsoni, Ae. furcifer-taylori, Ae. luteocephalus, Ae. albopictus. Có thể thêm vai trò của một số loài muỗi rừng hút máu khác thuộc nhóm Haemagogus.
- Trong các vùng nông thôn và thành thị, bệnh lan truyền chủ yếu bởi loài muỗi Ae. aegypti và có thể của một vài loài Aedes khác. Loài muỗi Aedes aegypti sống gần người, ưa thích đốt và hút máu người, song cũng có thể đốt động vật. Muỗi thường sinh sản ở những ổ nước sạch và phát triển mạnh nhất vào mùa mưa, nhiệt độ trung bình tháng trên 200C.
- Bệnh không lây truyền do ăn uống, tiếp xúc trực tiếp hoặc qua đồ dùng hàng ngày. 
6. Tính cảm nhiễm và miễn dịch: Mọi chủng người, giới tính, lứa tuổi khi chưa có miễn dịch đều có thể mắc bệnh sốt vàng. Tại những vùng bệnh lưu hành, tỷ lệ mắc bệnh của trẻ em cao hơn rõ rệt. Tuy nhiên, trẻ dưới 6 tháng tuổi có thể có miễn dịch do mẹ truyền. Miễn dịch thu được sau nhiễm bệnh tự nhiên hoặc có được sau khi tiêm ngừa bằng vắc xin sốt vàng tồn tại rất lâu dài, có thể suốt đời. Trong vùng bệnh lưu hành, tỷ lệ người nhiễm vi rút không triệu chứng khá cao, gấp hàng chục lần so với số người mắc bệnh điển hình.
7. Các biện pháp phòng chống dịch:
7.1. Biện pháp dự phòng:
- Biện pháp dự phòng có hiệu quả nhất đối với bệnh sốt vàng cho đến nay là tiêm phòng vắc xin. Thường sử dụng vắc xin 17D sống, giảm độc lực, an toàn cao, chế tạo từ phôi gà. Vắc xin được tiêm dưới da cho người từ 9 tháng tuổi trở lên, dùng 1 liều duy nhất, hiệu lực đạt trên 90% và có thể duy trì kháng thể bảo vệ lâu dài, tuy nhiên nên có mũi tiêm nhắc lại sau mỗi 10 năm ở những người có nguy cơ cao trong vùng dịch lưu hành. Vắc xin sốt vàng được quy định tiêm bắt buộc cho người đi đến từ vùng có bệnh lưu hành và đi vào vùng có bệnh dịch sốt vàng. Chống chỉ định dùng vắc xin sốt vàng 17D áp dụng như đối với các vắc xin sống, giảm độc lực. Vắc xin vẫn có thể sử dụng cho người đã nhiễm HIV chưa chuyển thành AIDS.
- Việt Nam cho tới nay chưa có bệnh nhân sốt vàng, vì thế biện pháp tăng cường kiểm dịch y tế biên giới là rất quan trọng nhằm kịp thời phát hiện, xử lý, quản lý  những trường hợp nghi mắc sốt vàng có thể xâm nhập.
- Tuyên truyền giáo dục và tổ chức cho cộng đồng tiến hành các biện pháp giám sát thường xuyên, khống chế việc sinh sản và diệt muỗi trưởng thành đối với loài muỗi Aedes trong các khu vực dân cư, đặc biệt là khi có cảnh báo về ca bệnh sốt vàng du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam. Các biện pháp cụ thể áp dụng như đối với muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue.
7.2. Biện pháp chống dịch:
7.2.1. Tổ chức.
- Báo cáo khẩn cấp cơ quan y tế cấp trên về mọi trường hợp nghi ngờ ca bệnh sốt vàng ở bất cứ địa điểm nào trong nước, có thể báo cáo vượt cấp lên tới Bộ Y tế. Duy trì báo cáo cho tới khi hết tình trạng cảnh báo dịch bệnh sốt vàng xâm nhập.
- Thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch sốt vàng khẩn cấp ở các tuyến theo quy định của Chính phủ khi có tình trạng cảnh báo dịch.
7.2.2. Chuyên môn.
- Cách ly chủ yếu bằng biện pháp duy trì chống muỗi đốt cho bệnh nhân; ngoài ra thu gom và khử khuẩn triệt để chất dịch cơ thể của bệnh nhân (máu, dịch não tủy, tinh dịch, dịch tiết khác). Thời gian theo dõi cách ly ngắn nhất trong vòng 7 ngày, thường là 14 ngày sau khi phát bệnh. Kết hợp phun hóa chất diệt muỗi (phun dạng ULV, phun nhắc lại sau 1 tuần) trong bệnh viện và khu vực ổ dịch, tập trung vào khu vực muỗi Aedes truyền bệnh có thể trú đậu và sinh sản.
- Đăng ký cụ thể, tổ chức theo dõi những người tiếp xúc trực tiếp và người cùng sống với người bệnh trước khi phát bệnh 5 ngày, phát hiện kịp thời các trường hợp nghi ngờ mới phát bệnh để đưa vào diện cách ly, điều trị.
- Có thể tiêm vắc xin 17D dự phòng khẩn cấp cho những người sống trong khu vực ổ dịch, đề phòng dịch lan rộng và kéo dài. Thời gian xuất hiện kháng thể bảo vệ sớm nhất khoảng 7 ngày, đạt mức bảo vệ tốt 14-21 ngày sau mũi tiêm.
- Xử lý vệ sinh môi trường chủ yếu theo hướng giảm bớt ổ sinh sản, phát triển của muỗi Aedes aegypti trước mắt và lâu dài.
7.3. Nguyên tắc điều trị: Bệnh sốt vàng hiện chưa có thuốc đặc trị, vì vậy điều trị theo các nguyên tắc: phát hiện, chẩn đoán đúng bệnh; điều trị sớm; tập trung chủ yếu điều trị triệu chứng như giảm sốt, giảm đau, chống xuất huyết; chống suy gan, thận; trợ tim mạch, chống dị ứng; chỉ dùng kháng sinh khi có biểu hiện bội nhiễm vi khuẩn; hạn chế tối đa các biến chứng muộn.
7.4. Kiểm dịch y tế biên giới:
- Tự khai báo bệnh khi quá cảnh.
- Áp dụng các biện pháp kiểm dịch và diệt côn trùng bắt buộc đối với tàu thủy, máy bay và các phương tiện giao thông đường bộ đến từ nơi có bệnh sốt vàng. Kết hợp kiểm dịch động vật đối với các loài linh trưởng (khỉ, vượn, đười ươi) nhập khẩu, theo dõi 7-14 ngày kể từ khi rời khu vực có bệnh sốt vàng.
- Yêu cầu có phiếu xác nhận đã tiêm chủng sốt vàng đối với những người nhập cảnh từ vùng lưu hành bệnh sốt vàng và người Việt Nam sắp đi vào vùng có dịch sốt vàng.